Tin tức

Hiệu quả từ mô hình xử lý nước thải bằng bể Bastaf tại Vĩnh Phúc.

Tỉnh Vĩnh Phúc hiện có 16 làng nghề truyền thống và 1 làng nghề tiểu thủ công nghiệp. Hầu hết các làng nghề được hình thành và phát triển từ lâu đời, có tính kế thừa qua các thế hệ, trước kia chủ yếu nhằm đáp ứng các nhu cầu của người dân địa phương và một phần cho các vùng khác. Hiện nay do điều kiện thương mại phát triển, nhu cầu hàng hóa ngày càng gia tăng thì quy mô sản xuất của các làng nghề ngày càng phát triển và được mở rộng. Tuy nhiên, sự phát triển vẫn còn mang tính tự phát, chưa có quy hoạch, mang tính sản xuất nhỏ và nằm phân tán xen kẽ trong dân; trình độ công nghệ còn thấp, lao động giản đơn không được đào tạo và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Điều đó đã tác động không chỉ tới sự phát triển kinh tế của làng nghề mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng môi trường và sức khỏe của người dân sống trong làng nghề.

Thực trạng làng nghề nuôi rắn Vĩnh Sơn: 

Xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc có tổng diện tích đất tự nhiên là 327,34 ha, trong đó đất nông nghiệp là 239,21 ha, đất phi nông nghiệp là 88,13 ha với hơn 1.200 hộ gia đình, trong đó số nhân khẩu là 5.577 người. Đất chật người đông, người dân trong xã sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, đặc biệt xã đã có nghề nuôi rắn rất phát triển. Bên cạnh sự phát triển về kinh tế thì vấn đề ô nhiễm môi trường đang trở nên rất bức xúc do các loại chất thải chăn nuôi, nước thải và rác thải sinh hoạt. Rất nhiều hộ dân giàu lên từ nghề nuôi rắn, đời sống của người dân Vĩnh Sơn đang thay đổi từng ngày, song bên cạnh những giá trị kinh tế đạt được thì vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề rắn đã và đang trở nên bức xúc do các loại chất thải trong quá trình chăn nuôi nói chung và chất thải từ chăn nuôi rắn nói riêng, như nước thải, phân rắn, rắn chết, các loại phế phẩm từ thức ăn của rắn (chuột, cóc, nhái...) không được xử lý mà được thải bừa bãi ra đường ngõ, kênh mương và đổ tràn xuống sông Phan gây ô nhiễm môi trường và là nguồn lây lan dịch bệnh... Đây là lý do chính để Trung tâm Tài nguyên và Bảo vệ môi trường (TN&BVMT) - Sở TN&MT tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành thực hiện nhiệm vụ “Xây dựng mô hình xử lý nước thải sinh hoạt bằng bể Bastaf cho tuyến cụm dân cư xã Vĩnh Sơn, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc”. Mục đích nhằm hoàn thiện toàn bộ các hệ thống cơ sở hạ tầng bảo vệ môi trường, hạn chế tối đa mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, cải thiện chất lượng môi trường phục vụ tốt hơn cho sức khỏe và điều kiện sống của người dân, khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân, đặc biệt là tạo môi trường thuận lợi cho con rắn Vĩnh Sơn sinh trưởng phát triển mạnh, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên, giữ gìn và bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống. 

Mô hình xử lý nước thải hiệu quả:

Vị trí tuyến cụm dân cư xây dựng bể thuộc một phần của thôn 1, 4 và thôn 5, nằm cách trung tâm huyện Vĩnh Tường 4 km. Trong đó, dân số khu vực xây dựng bể xử lý nước thải tại Vĩnh Sơn tính đến ngày 31/6/2009 (theo kết quả điều tra của Trung tâm TN&BVMT Vĩnh Phúc) là 800 người. Với số vốn nhà nước đầu tư khoảng 600 triệu đồng, tổng số 160 hộ dân, diện tích khu vực xây dựng bể Bastaf xử lý nước thải tại tuyến cụm dân cư xã Vĩnh Sơn 1.100 m2. Toàn bộ nước thải sinh hoạt phát sinh trong tuyến cụm dân cư là 80 m3 ngày/đêm được thu gom theo hệ thống thu gom nước thải chung và đưa về bể Bastaf với vận tốc dòng chảy V = 0,3m/h, ở điều kiện yếm khí để xử lý. Nước thải đi qua ngăn lắng với thời gian lưu là 1 ngày đủ để làm lắng những cặn có kích thước lớn, tiếp sau đó nước thải được đưa qua ngăn kỵ khí, ở đây nước thải được lưu với thời gian là 3 ngày, các vi sinh vật hô hấp yếm khí, hoặc hô hấp tùy tiện sẽ sử dụng các hợp chất hữu cơ trong nước thải làm thức ăn để tổng hợp thành sinh khối. Quá trình phân hủy này sẽ làm cho lượng sinh khối của vi sinh vật tăng lên, bám dính lại với nhau làm tăng khối lượng của chúng và kéo nhau cùng lắng xuống, tiếp sau đó nước thải được đưa qua ngăn lọc kỵ khí có tác dụng lọc các cặn lơ lửng có kích thức lớn, thời gian lưu trong ngăn lọc kỵ khí 1 điều kiện yếm khí được đưa sang Ao sinh học (Ao đã cải tạo). Theo kết quả phân tích thử nghiệm các mẫu nước thải của tuyến cụm dân cư sau khi qua xử lý bằng bể Bastaf và Ao sinh học cho thấy, chất lượng nước thải của toàn tuyến cụm dân cư đã dần được cải thiện. Khi triển khai nhiệm vụ “Xây dựng mô hình xử lý nước thải sinh hoạt tuyến cụm dân cư bằng bể Bastaf”, Trung tâm TN&BVMT đã tiến hành điều tra, khảo sát tuyến cụm dân cư xây dựng bể Bastaf, kết hợp với việc tổ chức tập huấn, tuyên truyền cung cấp những thông tin, kiến thức về xử lý nước thải, nhằm đánh giá khả năng nhân dân tham gia mô hình xử lý nước thải chi phí thấp. Kết quả cho thấy: Người dân tuyến cụm dân cư đã có nhiều thay đổi trong hành vi và thói quen. Tỉ lệ hộ gia đình có nhà vệ sinh tự hoại năm 2008 là 23,8% đến 31/6/2009 là 24,3%, số hộ dân có các biện pháp thu gom xử lý sơ bộ n ước thải sinh hoạt tại hộ gia đình đã tăng lên. Qua các buổi tập huấn của Trung tâm TN&BVMT, nhận thức của người dân đã có sự thay đổi, nhiều hộ đã tự nguyện xây mới các nhà vệ sinh tự hoại, nhà tắm, hố ga tách cặn và lưới chắn rác... Do nguồn kinh phí của nhiệm vụ có hạn nên các hộ gia đình cũng đã chủ động nâng cấp, sửa chữa hệ thống cống rãnh thoát nước, cũng như đóng góp kinh phí xây dựng hệ thống thoát nước chung của thôn xóm. Các hoạt động này cũng thúc đẩy người dân tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến, tham gia hoàn thiện phương án nâng cấp cống rãnh các ngõ xóm của mình trước khi đấu nối vào hệ thống thoát nước chung của toàn tuyến cụm dân cư. Khi thực hiện nhiệm vụ xây dựng mô hình, người dân tham gia việc bàn bạc lựa chọn vị trí xây dựng, cũng như tham gia quá trình giám sát xây dựng bể.


Mẫu nước trước và sau khi xử lý qua bể Bastaf

Ngoài ra, một nội dung cần nhấn mạnh về tuyến cụm dân cư thôn 1, thôn 4, thôn 5, đó là sự nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm, kinh nghiệm tổ chức các hoạt động cộng đồng và vận động, tuyên truyền giáo dục nếp sống mới theo mô hình làng văn hóa mới của đội ngũ cán bộ lãnh đạo của thôn, với sự gắn kết chặt chẽ với UBND xã Vĩnh Sơn và các đoàn thể địa phương. Ông Nguyễn Công Võ - Giám đốc Trung tâm TN&BVMT - Sở TN&MT Vĩnh Phúc cho biết: “Thành công của mô hình này phần lớn dựa vào sự ủng hộ của chính quyền địa phương, cụ thể, UBND xã đã dành quỹ đất để xây dựng bể, tuyên truyền để người dân hiểu hiệu quả của mô hình, thành lập đội vệ sinh thu gom rác, xây dựng ban hành quy định quản lý thu gom rác ...”

Có thể nói, đây là một mô hình xử lý nước thải chi phí thấp phù hợp với điều kiện của địa phương và có thể triển khai áp dụng nhân rộng ra toàn tỉnh Vĩnh Phúc, nhằm giảm thiểu lượng nước thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày ra môi trường. Khi mô hình này được triển khai nhân rộng, chắc chắn vấn đề về ô nhiễm do nước thải sẽ không còn bức xúc như hiện nay nữa, mặt khác sẽ nâng cao nhận thức của người dân trong cộng đồng dân cư.
CÁC TIN KHÁC